Ngoại giao nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ năm - 08/12/2011 10:10

Tư tưởng đối ngoại và phong cách ngoại giao của Người là sự kết tinh truyền thống của dân tộc và tinh hoa của nhân loại, trong đó ngoại giao nhân dân là một “binh chủng” đa kênh và đa năng quan trọng, cùng với ngoại giao Đảng và Nhà nước hợp thành nền ngoại giao tổng hợp của quốc gia.

Đại biểu thanh niên Việt Nam dự đêm hội liên hoan Thanh niên Viêt Nam-Trung Quốc - 2010. (Ảnh minh họa - TTXVN

Đại biểu thanh niên Việt Nam dự đêm hội liên hoan Thanh niên Viêt Nam-Trung Quốc - 2010. (Ảnh minh họa - TTXVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của Đảng, đất nước và nhân dân ta không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, danh nhân văn hóa mà còn là nhà ngoại giao kiệt xuất. Tư tưởng đối ngoại và phong cách ngoại giao của Người là sự kết tinh truyền thống của dân tộc và tinh hoa của nhân loại, trong đó ngoại giao nhân dân là một “binh chủng” đa kênh và đa năng quan trọng, cùng với ngoại giao Đảng và Nhà nước hợp thành nền ngoại giao tổng hợp của quốc gia.

Sự hình thành và phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trong đó có ngoại giao nhân dân gắn liền với cuộc đời hoạt động của Người qua những giai đoạn lịch sử đầy biến cố của tình hình thế giới và trong nước. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh với những nội dung chủ yếu như: Các quyền dân tộc cơ bản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn với đoàn kết và mở rộng hợp tác quốc tế, v.v... trong đó ngoại giao là một mặt trận là một trong những nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh”, và cũng theo quan điểm của Người “ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng” (1), nhất là “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập” (2). Vì vậy, Người khẳng định: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”, nên “muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực”.
Thực hiện theo quan điểm, tư tưởng của Người, sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, và đặc biệt là trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, việc phối hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh chính trị, quân sự của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã góp phần to lớn vào thắng lợi của toàn dân tộc.

Kiên định mục tiêu nhất quán là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát huy mọi nguồn lực của đất nước, đồng thời với việc đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế, để kiên định con đường cách mạng đã lựa chọn. Trong mọi “nguồn lực” đó, ngoại giao, đặc biệt là ngoại giao nhân dân được chú trọng và đã phát huy vai trò to lớn, vì đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cục diện cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà còn luôn giữ vai trò quan trọng tích cực và chủ động, để biểu dương và nhân nguồn sức mạnh của thực lực.

Trong lịch sử quan hệ quốc tế, các nước tiến hành các hoạt động ngoại giao dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng quy tụ lại thành hai loại chính là ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân. Ngoại giao nhà nước là mối quan hệ giữa chính phủ với chính phủ của các nước có chủ quyền, giữa các nhà lãnh đạo của các nước. Các quan chức làm việc trong các đại sứ quán hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của một nước ở nước ngoài là những người đại diện cho chính phủ ở nước sở tại. Ngoại giao nhân dân là một hình thức hoạt động quan hệ đối ngoại do các tổ chức, các đoàn thể, hoặc cá nhân thuộc nhiều lĩnh vực tiến hành, không mang tính chất chính thức của Chính phủ. Có nhiều hình thức phong phú: gặp gỡ, các cuộc đi thăm, hội đàm, trao đổi ý kiến, festival…

Hoạt động của ngoại giao nhân dân là phát huy “sức mạnh mềm” (3) của một nước, hỗ trợ cho ngoại giao nhà nước để thực hiện chính sách đối ngoại mà chính phủ nước đó đề ra. Ngoại giao nhân dân là lực lượng quan trọng của mặt trận ngoại giao và ưu thế của ngoại giao nhân dân là có thể đi đầu, có thể đi trước tại những nước, những khu vực và về một số vấn đề mà ngoại giao chính thức của nhà nước chưa có điều kiện triển khai.

Tham gia làm ngoại giao nhân dân gồm các đoàn thể, quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội, các hội nghề nghiệp, toàn thể nhân dân và nhiều khi cả tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm và mang dấu ấn riêng của Người, ngoại giao nhân dân là một nội dung quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng, Chính phủ Việt Nam, thể hiện rõ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất và XHCN.

Ngoại giao nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là một lực lượng quan trọng của mặt trận đối ngoại. Bởi vì theo Hồ Chí Minh, ngoại giao không chỉ là việc riêng của “các đại sứ quán, tổng lãnh sự quán là những cơ quan chuyên môn phụ trách, mà còn là các tổ chức khác như ngoại thương, văn hóa, thanh niên, phụ nữ, công đoàn cũng đều làm ngoại giao cả” (4). Đây là quan điểm xuất phát từ tư tưởng lấy dân làm gốc của cha ông ta, được Người kế thừa và nâng lên một bước: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Vậy ngoại giao cũng là mặt trận không thể thiếu sự tham gia của nhân dân.
Hồ Chí Minh chủ trương đối ngoại rộng mở, mở rộng lực lượng theo phương châm “thêm bạn, bớt thù”, tránh đối đầu “không gây thù oán với một ai”, tìm ra những điểm tương đồng, khai thác mọi khả năng có thể nhằm tập hợp lực lượng, hình thành mặt trận đoàn kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều tầng, nhiều nấc. Người từng nói: “Đường lối tấn công vào lòng người, chinh phục bằng đạo lý, chuyển hóa bằng nhân tình, thuyết phục lòng người để nhân lên sức mạnh của chính nghĩa”. Như vậy, với Hồ Chí Minh, ngoại giao không chỉ là sự nghiệp của toàn dân, mà còn phải lôi kéo, thuyết phục bằng chính nghĩa để nhân dân và bạn bè thế giới ủng hộ, giúp đỡ mình.

Để thực hiện chính sách ngoại giao nhân dân rộng mở, tập hợp các lực lượng đoàn kết với Việt Nam, theo Hồ Chí Minh, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ về Việt Nam, về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Và muốn tăng cường đoàn kết, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải thông qua đấu tranh và “mục đích của ta là vì đoàn kết, vì đoàn kết mà phải tranh đấu. Tranh đấu để đến đoàn kết chứ không nói xấu ai” (5). Đoàn kết hợp tác với bên ngoài để tăng cường sức mạnh bên trong, nhân nguồn sức mạnh của bên trong, vì vậy, phải xây dựng thực lực sức mạnh đất nước, chính nghĩa của dân tộc làm nền tảng, để thu hút sự ủng hộ của quốc tế.

Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên nhận thức được tầm quan trọng và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Từ đó Người đặt cách mạng Việt Nam trong tiến trình chung của cách mạng thời đại. Trong tác phẩm Đường kách mệnh (1927), Nguyễn Ái Quốc đã xác định: “Cách mạng An Nam cũng là một bộ phận trong cách mạng thế giới. Ai làm cách mạng thế giới đều là đồng chí của nhân dân An Nam cả” (6). Và khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ngay từ những ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thành lập các tổ chức ngoại giao nhân dân đầu tiên ở trong nước để tiếp cận với phong trào hòa bình và đoàn kết của cách mạng thế giới.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định rõ mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng vô sản, với phong trào giải phóng dân tộc, với phong trào hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới. Năm 1948, khi ta giành được thắng lợi trên chiến trường, nhưng về ngoại giao, thế giới chưa biết nhiều về cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc ta. Khi ấy, chính Người đã chỉ đạo việc tổ chức một đoàn cán bộ được tuyển chọn từ các ngành dân, chính, Đảng ra nước ngoài để tuyên truyền về cuộc kháng chiến, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới.

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng, tháng 2-1951, khi nêu khái niệm về ngoại giao nhân dân và tầm quan trọng của nó, Đảng ta đã tự kiểm điểm: “Do chưa nhận thức đầy đủ về tác dụng của ngoại giao nhân dân, ta chưa có kế hoạch tích cực, kiên quyết vượt qua mọi trở lực, để xúc tiến ngoại giao nhân dân”, đồng thời nêu nhiệm vụ phải “phát triển ngoại giao nhân dân rộng rãi”, “củng cố ngoại giao với Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác, tăng cường việc ngoại giao giữa đoàn thể nhân dân nước ta và các đoàn thể nhân dân thế giới” (7). Đây là một sự phát triển sáng tạo trong nhận thức của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò và vị trí của ngoại giao nhân dân, phù hợp với tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đặt cơ sở cho hoạt động ngoại giao nhân dân thời kỳ tiếp theo.

Ngoại giao nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang tính nhân dân sâu sắc, phù hợp với khát vọng hòa bình, tự do, công lý của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đó còn là cơ sở để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới và thực hiện phương pháp ngoại giao “tâm công”, nhằm “tuyên truyền cái chính nghĩa của ta trong nhân dân các nước đối phương, trong nhân dân thế giới”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đấu tranh giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, mặt trận ngoại giao, trong đó có ngoại giao nhân dân đã phát huy sức mạnh một cách hữu hiệu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nhân dân Mỹ đánh từ trong đánh ra, nhân dân ta đánh từ ngoài đánh vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt - Mỹ nhất định sẽ thắng. Đó sẽ là thắng lợi vẻ vang của mặt trận thống nhất nhân dân hai nước; mà cũng là thắng lợi chung của nhân dân yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa” (8). Phối hợp cùng với hoạt động ngoại giao của Đảng, Nhà nước và của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh, những hoạt động ngoại giao của nhân dân ta ở miền Bắc, ở miền Nam đã góp phần hình thành một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa vì độc lập, tự do, thống nhất và hòa bình, công lý của nhân dân Việt Nam.

Theo lời Người, đối ngoại là công việc chung của toàn Đảng, toàn dân, nên mỗi người dân Việt Nam đều có vinh dự và trách nhiệm là đại diện cho dân tộc mình trước bạn bè thế giới. Chính Người là nhà ngoại giao nhân dân tiêu biểu với phong cách ngoại giao “tâm công”, độc đáo và là tấm gương mẫu mực vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh đã dùng triết lý phương Đông, kết hợp hài hòa với văn hóa phương Tây trong ứng xử của mình, để vừa giữ được sự mềm dẻo, tinh tế, lại vừa đảm bảo được nguyên tắc, mục tiêu cách mạng, phân hóa được kẻ thù, tấn công vào lòng địch. Song hơn hết, tư tưởng ngoại giao nhân dân của Người đề cao lòng nhân ái, thái độ chân thành, biết thông cảm, chia sẻ đã xóa bỏ ranh giới và tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tại các nước đế quốc đang tiến hành chiến tranh ở Việt Nam.

Trong bối cảnh thực dân Pháp đã cố tình gây chiến và buộc dân tộc ta phải tiến hành cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và người Việt ngừng chảy. Những dòng máu đỏ chúng tôi đều quý như nhau”. Và với nhân dân Mỹ, phối hợp với chính sách ngoại giao của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người nhiều lần nhấn mạnh rằng: “Chúng tôi phân biệt rõ ràng đế quốc Mỹ là kẻ thù và nhân dân Mỹ là người bạn của nhân dân Việt Nam”, để có thêm “những người bạn quý ở trong lòng nước Mỹ”.

Ít có vị lãnh tụ nào trên thế giới trong khi đang lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc mình, lại vẫn luôn bày tỏ sự cảm thông với nhân dân các nước ở phía bên kia chiến tuyến. Trong các bức thư gửi nhân dân Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bày tỏ rằng: Người không lên án bản thân những người lính Mỹ bị đưa sang Việt Nam, bởi họ, cũng như các binh lính thuộc địa trước đây chẳng qua là công cụ của nhà cầm quyền. Vì vậy, Người bày tỏ: “Chẳng những chúng tôi đau xót vì đồng bào miền Nam chúng tôi phải gian khổ, hy sinh, mà chúng tôi cũng thương xót cho các bà mẹ và các người vợ Mỹ đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở miền Nam Việt Nam do bọn quân phiệt Mỹ tiến hành” (9).

Lịch sử dựng nước và giữ nước của các dân tộc trên thế giới đều có điểm chung là được lòng dân thì làm việc gì cũng dễ. Ngọn cờ độc lập, tự do mà Hồ Chí Minh giương cao, không chỉ phù hợp và được lòng dân Việt Nam, mà còn phù hợp tâm tư, khao khát của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Ngoại giao nhân dân của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người là sự phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới trong công cuộc chung chống lại kẻ thù chung của hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, vì vậy hấp dẫn và quy tụ được sự đồng cảm và ủng hộ của “mặt trận nhân dân thế giới”.

Kết hợp đấu tranh ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã rất thành công khi phát huy sức mạnh của ngoại giao nhân dân, biểu dương sức mạnh của quần chúng nhân dân trong những ngày đầu của nền dân chủ cộng hòa (1945-1946). Cũng kết hợp thành công ngoại giao nhân dân với ngoại giao Nhà nước, Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm cho nhân loại tiến bộ trên thế giới hiểu sâu sắc hơn về khát vọng độc lập, hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Chính phủ và nhân dân Việt Nam khi kiên trì thực hiện Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Hiệp định Pari năm 1973, và bền bỉ tiến hành cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất.

Cùng với thời gian, những giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh về ngoại giao nhân dân vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao nhân dân được hình thành trên cơ sở những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc, trong đó đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa, nhân văn trong ngoại giao của cha ông ta và yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam đòi hỏi phải có một phương pháp ứng xử khéo léo để không những đoàn kết nhân dân trong nước, mà còn có thể tập hợp các lực lượng bên ngoài hỗ trợ tích cực cho thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Trên tinh thần đó, Đảng ta chủ trương: “Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường quan hệ song phương và đa phương với các tổ chức và nhân dân các nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân ta và nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới... Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của nhà nước, hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân,… làm cho thế giới hiểu rõ hơn đất nước, con người, công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối chính sách của Đảng và nhà nước ta” (10).

Đất nước đang đổi mới và hội nhập toàn diện, hoạt động ngoại giao nhân dân cũng khoác thêm lên mình “chiếc áo” mới. Cũng giống như đối ngoại của Nhà nước, ngoại giao nhân dân triển khai đều cả bốn mặt trận: ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa và công tác người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần quảng bá hình ảnh, bảo vệ lợi ích của Việt Nam tại các diễn đàn nhân dân khu vực và trên thế giới; vận động nhân dân thế giới ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam; vận động viện trợ phi chính phủ của nước ngoài tăng đáng kể,v.v...

Ngoại giao nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Có thể nói, ngoại giao nhân dân và sự kết hợp giữa ngoại giao nhân dân và ngoại giao Nhà nước là sự sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh. Tư tưởng của Người về đối ngoại nói chung và ngoại giao nhân dân nói riêng đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc, thành kim chỉ nam cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại.

Những thành tựu đối ngoại trong thời kỳ đổi mới trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt tư tưởng của Người về nền ngoại giao nhân dân đã góp phần đưa đất nước “ra khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hẫng hụt về thị trường do những biến động ở Liên Xô và Đông Âu gây ra; phá được thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng được quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” (11). Ngày nay, khi giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, thì ngoại giao nhân dân “tiếp tục được mở rộng” (12) càng phát huy được sức mạnh tối ưu của nó. Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác ngoại giao nhân dân, để mỗi người dân đều có vai trò là một “đại sứ” của đất nước là góp phần quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam đổi mới và hội nhập trong lòng bạn bè thế giới./.
 

 

Tác giả bài viết: ThS. NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN Bảo tàng Hồ Chí Minh

Nguồn tin: Thành Đoàn


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Đăng nhập thành viên
 
 

Đăng nhập bằng OpenID Đăng nhập bằng OpenID

Thăm dò ý kiến

Đâu là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi Đoàn?

Thống kê truy cập
  •   Đang truy cập 87
 
  •   Hôm nay 1,803
  •   Tháng hiện tại 49,599
  •   Tổng lượt truy cập 8,393,543
4 xây 3 chống