ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 86 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (3/2/1930 - 3/2/2016)

Thứ ba - 15/03/2016 21:13

KỶ NIỆM 86 NĂM NGÀY THÀNH LẬP

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (3/2/1930 - 3/2/2016)

____

          A. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

          I. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI NĂM 1930 MỞ RA BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

           1. Bối cảnh lịch sử ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam:

           a. Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:

- Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Các nước tư bản đế quốc vừa tăng cường bóc lột nhân dân lao động trong nước, vừa xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.

- Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Chủ nghĩa Mác-Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới - thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc. Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười Nga nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức.

- Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) vào tháng 3 năm 1919, đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

           b. Bối cảnh trong nước:

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược và từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành thuộc địa, nửa phong kiến.

- Về chính trị: Áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi Kỳ một chế độ cai trị riêng. Thực dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ trong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam.

- Về kinh tế: Thực hiện chính sách bóc lột, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.

- Về văn hóa: Thực hiện chính sách giáo dục thực dân và dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu.

* Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam:

- Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc; giai cấp địa chủ cấu kết với thực dân Pháp. Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này bắt đầu có sự phân hóa, một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau.

+ Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh bần cùng khốn khổ của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, tăng thêm ý chí đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do.

+ Cùng với công cuộc khai phá công nghiệp ở Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời. Đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân cùng bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột.

+ Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời cùng với cuộc khai phá thuộc địa của Pháp, bị tư sản Pháp cạnh tranh chèn ép, do đó thế lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt, có tinh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định. Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, những người làm nghề tự do… đời sống bấp bênh, dễ bị phá sản trở thành người vô sản, có lòng yêu nước, căm thù đế quốc thực dân, có khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào.

- Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người dân mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể Nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Tính chất của xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa, nửa phong kiến đang đặt ra hai yêu cầu: Một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho Nhân dân; Hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho Nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.

* Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:

- Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các phong trào yêu nước của Nhân dân ta chống thực dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết quả. Phong trào Cần Vương (phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do giai cấp phong kiến lãnh đạo) đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (1896). Sang đầu thế kỷ XX, khuynh hướng này không còn là khuynh hướng tiêu biểu nữa. Phong trào nông dân cũng diễn ra rất sôi nổi, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm cũng thất bại vào năm 1913. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc; cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại.

- Các phong trào yêu nước trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

           2. Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam:

Cùng với những người yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước, ngày 05 tháng 6 năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

- Người đã đi qua nhiều nước của châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã phát hiện ra chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa.

- Năm 1917, Người trở lại Pari, năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội Pháp.

- Tháng 6 năm 1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi mới là Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Véc-xây.

- Tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin và từ tư tưởng đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.

- Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 02 năm 1920), Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, Người trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một sự kiện lịch sử trọng đại, không những Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến với lý luận cách mạng của thời đại là Chủ nghĩa Mác-Lênin, mà còn đánh dấu bước chuyển quan trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt Nam: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.

- Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào Cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc còn xúc tiến việc truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin, vạch phương hướng chiến lược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc tiếp thu và ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nhấn mạnh: Cách mạng muốn thành công phải có Đảng cách mạng chân chính lãnh đạo; Đảng phải có hệ tư tưởng tiên tiến, cách mạng và khoa học dẫn đường, đó là hệ tư tưởng Mác-Lênin.

- Người đã viết nhiều bài báo, nhiều tham luận tại các đại hội, hội nghị quốc tế, viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và tổ chức ra các tờ báo Thanh niên, Công nông, Lính Kách mệnh, Tiền phong… nhằm truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tác phẩm “Đường Kách mệnh” (tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên). Đó là sự chuẩn bị về đường lối chính trị tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người khẳng định, muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một Đảng lãnh đạo, Đảng có vững, cách mạng mới thành công cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy.

- Trong thời gian này, Người cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ. Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu, Trung Quốc và gửi đi học tại trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc) nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Nhờ hoạt động không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách mạng tiền bối mà những điều kiện thành lập Đảng ngày càng chín muồi.

- Cuối năm 1929 đầu năm 1930, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức Cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam. Được sự phân công của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tổ chức và chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc. Hội nghị đã quyết định hợp nhất 3 tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những văn kiện đó do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị hợp nhất Đảng thông qua, là sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Hội nghị thông qua lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến đồng bào, đồng chí trong cả nước nhân dịp thành lập Đảng.

- Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng. Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ trì chính là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 (dương lịch) hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.

           3. Ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng:

- Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng Cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam - theo một đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta.

- Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân trọn vẹn nhất cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

- Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam. Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này. Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt 86 năm qua.

- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang. Đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

          II. 86 NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH - CHẶNG ĐƯỜNG VINH QUANG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

           1. Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945):

- Đặc điểm của thời kỳ này là cách mạng Việt Nam đã có đội tiên phong lãnh đạo là Đảng Cộng sản với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, đưa cách mạng nước ta phát triển theo xu thế của thời đại đã được mở ra từ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917.

- Quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền (1930 - 1945) đã diễn ra với ba cao trào cách mạng chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám giành toàn bộ chính quyền về tay Nhân dân: Cao trào cách mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, cao trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và cao trào giải phóng dân tộc dẫn tới Cách mạng Tháng Tám 1945 (1939 - 1945). Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã trưởng thành và phát triển về mọi mặt: Chính trị, tư tưởng, tổ chức, về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, chống đế quốc và chống phong kiến không ngừng được bổ sung, phát triển, đặt nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc lên hàng đầu, vận dụng đúng đắn và có sự phát triển sáng tạo lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng thuộc địa.

- Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chấm dứt, xóa bỏ chế độ thực dân và phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mở ra thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh trong lịch sử dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám dẫn đến sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Đó là sự kiện quan trọng bậc nhất trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Đó cũng là thắng lợi đầu tiên của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình của Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt trận Việt Minh, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi". Người nhấn mạnh: "Với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, chẳng những giai cấp lao động và Nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, nắm chính quyền toàn quốc".

           2. Thời kỳ bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám, tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975):

- Những năm 1945 - 1946, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân vượt qua những khó khăn, thách thức nặng nề, chống thù trong, giặc ngoài, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc: Xây dựng và củng cố vững chắc chính quyền nhân dân; bầu cử Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (06 tháng 01 năm 1946); xây dựng Hiến pháp dân chủ đầu tiên (09 tháng 11 năm 1946); chăm lo xây dựng chế độ mới, đời sống mới của Nhân dân; chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ với sự ủng hộ và chi viện của cả nước; kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách mạng, bảo vệ chính quyền và thành quả Cách mạng Tháng Tám; thực hành sách lược khôn khéo, lúc thì tạm hòa hoãn với quân đội của Tưởng Giới Thạch để đánh thực dân Pháp, lúc thì hòa với Pháp để đuổi Tưởng Giới Thạch, thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc để triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo. Chúng ta đã chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trên phạm vi cả nước. Thành công nổi bật của hơn một năm xây dựng chính quyền non trẻ là ta đã tăng cường được sức mạnh của cách mạng để có thể tự bảo vệ trước sự tấn công từ bên ngoài.

- Tháng 12 năm 1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm: Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ; vừa kháng chiến, vừa kiến quốc dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu ngày 07 tháng 5 năm 1954. Thắng lợi của Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

* Từ năm 1954 đến năm 1975, Đảng ta lãnh đạo Nhân dân ta tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đây là đặc điểm mang tính đặc thù của cách mạng Việt Nam, cùng với mục tiêu độc lập dân tộc, mục tiêu xã hội chủ nghĩa được đặt ra trực tiếp.

- Đế quốc Mỹ phá hoại hiệp định Giơ-ne-vơ, thay chân thực dân Pháp, độc chiếm miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Dân tộc ta lại phải đương đầu với chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ. Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân nêu cao quyết tâm đánh Mỹ, bảo vệ nền độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, đường lối chiến tranh nhân dân được nâng lên tầm cao khoa học và nghệ thuật. Đương đầu với một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới, chúng ta chủ trương đánh lâu dài; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt động binh vận; kết hợp tiến công và nổi dậy, tiến hành đấu tranh trên cả ba vùng (đồng bằng, thành thị và miền núi); kết hợp ba mặt trận (quân sự, chính trị và ngoại giao); phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với sức mạnh thời đại, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi của Nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc và là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính chất thời đại sâu sắc.

- Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong điều kiện hai miền thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau, trong điều kiện từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi Đảng ta phải vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm các nước xã hội chủ nghĩa. Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta tập trung giải quyết tốt các mối quan hệ cơ bản: Giữa tiến hành chiến tranh cách mạng với xây dựng chủ nghĩa xã hội; giữa hậu phương lớn với tiền tuyến lớn; giữa thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữa quy luật chiến tranh và quy luật xây dựng, phát triển kinh tế; giữa đẩy mạnh chiến tranh cách mạng ở nước ta với bảo vệ hòa bình thế giới; giữa lợi ích dân tộc với thực hiện nghĩa vụ quốc tế…

Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã thu được những thành tựu quan trọng. Vừa sản xuất, vừa chiến đấu và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, miền Bắc đã nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; xây dựng hậu phương vững mạnh, trở thành căn cứ địa cách mạng của cả nước, bảo đảm mọi mặt cho tiền tuyến đánh thắng; mở rộng quan hệ đối ngoại, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bè bạn trên thế giới; tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước; tạo những cơ sở vật chất và những kinh nghiệm quý báu trong sự vận dụng và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sau này.

            3. Thời kỳ tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1975 đến nay:

Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thời kỳ này bao gồm hai giai đoạn chủ yếu:

- Từ năm 1975 đến năm 1986:

+ Sau chiến tranh, đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn. Đảng đã lãnh đạo Nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế vừa tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

+ Đảng đã tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động. Tuy nhiên, trước yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, việc duy trì lâu dài mô hình, cơ chế tập trung bao cấp không còn phù hợp và đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm. Trong việc hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, có lúc, có nơi đã mắc sai lầm khuyết điểm chủ quan, duy ý chí. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

+ Trước những thách thức của thời kỳ mới, Đảng ta đã tổng kết sáng kiến từ thực tiễn của nhân dân, tìm tòi, hoạch định đường lối đổi mới, đó là: Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 20 tháng 9 năm 1979 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phương hướng, nhiệm vụ phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương; Chỉ thị 100-CT/TW,  ngày 13 tháng 01 năm 1981 của Ban Bí thư về khoán sản phẩm trong nông nghiệp; Quyết định 25/QĐ-CP, ngày 21 tháng 01 năm 1981 của Chính phủ về đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, khóa V (tháng 6 năm 1986) thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật của sản xuất hàng hóa; Kết luận của Bộ Chính trị (tháng 9 năm 1986) về 3 quan điểm kinh tế trong tình hình mới... Đại hội VI của Đảng (tháng 12 năm 1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 - Từ năm 1986 đến nay:

+ Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, Đại hội VII của Đảng (tháng 6 năm 1991) khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực với những bước đi, cách làm phù hợp và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định những quan điểm và phương hướng phát triển đất nước, khẳng định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

+ Từ đó đến nay, Đảng ta tiếp tục phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới được bổ sung và phát triển ngày càng hoàn thiện. Những thành tựu, kinh nghiệm sau 30 năm đổi mới đã tạo ra cho đất nước thế và lực mới, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước; toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng: Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, cơ bản giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì được tốc độ tăng trưởng hợp lý, các ngành đều có bước phát triển, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên; giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và các lĩnh vực xã hội có tiến bộ; bảo vệ tài nguyên, môi trường được chú trọng hơn; đời sống các tầng lớp Nhân dân được cải thiện; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, vị thế, uy tín quốc tế của nước ta được nâng cao; phát huy dân chủ có tiến bộ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh, hiệu lực, hiệu quả hoạt động được nâng lên; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được tăng cường, đạt một số kết quả tích cực; việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đạt được một số kết quả bước đầu; đa số cán bộ, đảng viên và Nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, vào công cuộc đổi mới và triển vọng phát triển của đất nước.

       III. NHỮNG THẮNG LỢI VĨ ĐẠI CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG SUỐT 86 NĂM QUA VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

           1. Những thành tựu vĩ đại:

Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo Nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại, đó là:

Thứ nhất: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do.

Thứ hai: Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Thứ ba: Thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam.

Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 86 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.

           2. Những bài học kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam:

Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Hai là, sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chính Nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời Nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.

Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công.

Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại.

Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên.

3. Một số kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng:

- Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo.

- Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường dân chủ và kỷ luật trong hoạt động của Đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi hành động chia rẽ, bè phái.

- Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

 

       B. ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

       I. ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 1930 - 1975

Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định là trung tâm đô thị lớn ở miền Nam, vùng đất có khoảng bốn vạn hộ dân đã khai hoang lập ấp từ bao đời trước. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý, lập ra Phủ Gia Định, thực chất là để hợp pháp hóa quyền lực hành chính Nhà nước đầu tiên của Chúa Nguyễn đối với vùng đất này. Phủ Gia Định trong đó có Sài Gòn với địa bàn khoảng 50 cây số vuông, dân số thời đó khoảng một vạn người.

          Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định từng là nơi đóng trụ sở của triều đình phong kiến nhà Nguyễn để cai quản các trấn phía Nam, từng là thủ phủ của Toàn quyền Pháp cai trị cả ba nước Đông Dương, từng là nơi phát - xít Nhật đặt đại bản doanh của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương, là nơi thực dân Pháp đóng chốt để mở rộng cuộc xâm lược lần thứ hai  trên đất nước ta. Và nơi đây cũng từng là “thủ đô” của cái gọi là “nước Việt Nam Cộng hòa” do đế quốc Mỹ dựng lên trong hơn hai mươi năm trước ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 02 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa VI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định chính thức đặt tên Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định là thành phố Hồ Chí Minh.         

Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định là nơi quy tụ nhiều thế hệ người Việt Nam. Số đông người đến sinh sống, lập nghiệp là dân lao động, còn lại là trí thức, nhà doanh nghiệp, nhà tu hành, truyền đạo… Họ mang theo nhiều vốn văn hóa, văn hóa của hơn bốn ngàn năm con Lạc cháu Hồng, văn hóa của các dân tộc và các tôn giáo,… tất cả hòa quyện với nhau, phát triển cốt cách, lối sống, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

           Năm 1868, thực dân Pháp cho hải quân đánh vào Đà Nẵng, chiếm đóng bán đảo Sơn Trà, xâm lược nước ta; sau đó, năm 1869 chúng đưa quân vào Nam, điểm đầu tiên chúng nã súng là thành Gia Định. Đương đầu sớm nhất với kẻ thù ở Nam bộ là người dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Trừ 29 ngày sau thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định được làm chủ với chính quyền cách mạng của mình; còn lại chỉ là cuộc sống của người dân nô lệ, bị mất nước, đất nước bị chia cắt và không ổn định vì chiến tranh. Vì vậy, độc lập, thống nhất, hòa bình luôn là khát vọng bức xúc nhất của Nhân dân miền Nam, của người dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

          Ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định có một sự kiện rất đặc biệt: Người thợ Tôn Đức Thắng xuất thân từ nông dân nhưng vào Sài Gòn học nghề làm thợ máy. Ở xưởng Ba Son, Anh đã lãnh đạo công nhân đấu tranh. Sau đó qua Pháp, năm 1919, Anh là người kéo cờ đỏ lên cột cờ chiến hạm Pháp, kêu gọi binh sĩ Pháp phản đối các nước đế quốc tập trung tấn công hòng tiêu diệt Nhà nước Xô Viết non trẻ. Về nước, Anh lãnh đạo công nhân Ba Son đấu tranh, trì hoãn việc sửa chữa chiếc chiến hạm mà thực dân Pháp sẽ dùng để đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Trung Quốc ở Quảng Châu.

          Điều đó chứng tỏ rằng sự gắn kết lòng yêu nước của công nhân lao động với cuộc đấu tranh vì lợi ích giai cấp và tinh thần quốc tế vô sản đã xuất hiện rất sớm ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

          Trong thời kỳ chống giặc Pháp, giặc Mỹ, vùng đô thị, tiêu biểu là Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, cùng với vùng nông thôn và vùng các căn cứ ở rừng núi, là những địa bàn chiến lược rất quan trọng. Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định là nơi đã thể hiện 3 mũi giáp công chiến lược: Đó là phong trào đấu tranh chính trị rộng mạnh liên tục của đông đảo đồng bào các giới, kết hợp với các cuộc tiến công võ trang với những trận đánh như trời giáng của lực lượng biệt động, đặc công, cùng với hoạt động binh vận đã khơi dậy tinh thần yêu nước, tạo nên mặt trận tiến công toàn diện.

          Đảng bộ lãnh đạo Nhân dân Thành phố đấu tranh cách mạng vừa kế thừa, vừa có công đóng góp vào kho tàng văn hóa, lịch sử của Thành phố, của Nhân dân Thành phố.

Đảng bộ Thành phố ra đời đầu năm 1930, nhưng từ năm 1919 giới thanh niên Tây học của Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã biết và ngưỡng mộ Nguyễn Ái Quốc khi đọc báo “Le Courrier de Saigon”  (Thư tín Sài Gòn) đăng tải bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” và Thư gửi Tổng thống Mỹ đang tham dự Hội nghị Hòa bình Versailles. Năm 1921, công nhân đã biết vị Hội trưởng của tổ chức Công hội bí mật Tôn Đức Thắng. Năm 1923, toàn văn bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Mác và Ăng-ghen đã được đăng trên báo La Cloche fêlée (Chuông rè) của Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường. Từ năm 1927, người dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã đấu tranh với sự lãnh đạo của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

          Đảng bộ Thành phố thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương 20 năm (1930 - 1950); thuộc Đảng Lao động Việt Nam 10 năm (1951 - 1961). Từ lúc Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, Đảng bộ Miền Nam được Trung ương quyết định mang tên là Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam, một tổ chức thành viên của Mặt trận. Hệ thống tổ chức của Đảng bộ Thành phố từ năm 1962 đến tháng 4 năm 1975 là theo Điều lệ của Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam. Tuy có quá trình diễn biến như vậy, nhưng về thực chất thì Đảng bộ Thành phố lúc nào cũng chỉ là một bộ phận của Đảng Cộng sản ở Việt Nam do Bác Hồ sáng lập.

          Đảng bộ Thành phố là một Đảng bộ địa phương, có lúc trực thuộc Trung ương, có lúc trực thuộc Xứ ủy, có lúc trực thuộc Trung ương Cục Miền Nam, có trách nhiệm lãnh đạo ở nội thành và nông thôn ngoại thành. Đặc biệt trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, Thành ủy chuyển thành Ban Cán sự Phân khu 6, phụ trách lực lượng biệt động và phong trào nổi dậy ở nội thành theo sự chỉ đạo của Khu ủy Khu Trọng điểm. Tuy có sự diễn biến như trên, nhưng trọng tâm lịch sử Đảng bộ Thành phố vẫn là lịch sử hoạt động bí mật ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, một Thành phố lớn của đất nước, trung tâm đô thị ở miền Nam.

          Lịch sử 45 năm của Đảng bộ Thành phố (1930 - 1975) là lịch sử vẻ vang về xây dựng Đảng, về sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với cuộc chiến đấu vô cùng cam go quyết liệt, đầy hy sinh, gian khổ của Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, đương đầu với các thế lực thù địch sừng sỏ, rất hung hãn và tàn bạo ngay tại trung tâm sào huyệt - nơi trú đóng các cơ quan đầu não của chúng. Cán bộ, đảng viên của Đảng bộ Thành phố luôn bám vào dân, hoạt động bí mật trong sự kiềm kẹp gắt gao, đánh phá quyết liệt với những thủ đoạn hết sức thâm độc của địch, nhiều lúc phải lăn lộn dưới mưa bom bão đạn, để sống và chiến đấu. Nhiều cán bộ, đảng viên đã bị địch bắt, tra tấn, giam cầm, tù đày, có người bị đưa lên máy chém, có người đã chết trong lao tù. Rất nhiều đồng chí cùng Nhân dân cầm súng chống giặc đã hy sinh hoặc mang thương tật, bệnh tật suốt đời.

          Thử thách lớn đối với Đảng bộ không chỉ là một cuộc thi gan dai dẳng, ác liệt mà còn là sự đọ sức về mưu lược, về trí tuệ của từng tập thể cấp ủy và của từng cán bộ, đảng viên để tồn tại và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng.

          Nhiệm vụ chung của Đảng bộ Thành phố giai đoạn 1930 - 1975 là góp phần rất quan trọng với Đảng để hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đó, có 3 lần Đảng bộ chịu tổn thất lớn: Lần thứ nhất sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (năm 1940); lần thứ hai từ năm 1955 đến năm 1960; lần thứ ba sau hai đợt tấn công của ta vào mùa Xuân năm 1968. Những lần này, nhiều cơ sở Đảng bị tan vỡ, hàng ngàn cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng bị giết, bị bắt, bị tù. Một số cán bộ, đảng viên dao động, hoang mang, có người bỏ cuộc, cá biệt có kẻ đầu hàng, phản bội. Nhưng phong trào chỉ tạm thời lắng xuống rồi sau đó lại bùng lên, các giới đồng bào tham gia đông đảo hơn, lớp lớp đảng viên mới được bổ sung và đã giành được thắng lợi ngày càng lớn.

          Cùng những phong trào đấu tranh cách mạng do Đảng trực tiếp lãnh đạo, Đảng bộ Thành phố đã kịp thời và tích cực ủng hộ, đã huy động Nhân dân tham gia vào các phong trào đó. Cuộc đấu tranh của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của các giới đồng bào Thành phố đã mang lại ba thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử.

          Trước hết là, thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

Với số đảng viên còn lại sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và số rất ít đồng chí ở các nhà tù trở về, nhưng Đảng bộ Thành phố phối hợp với các tỉnh bạn đã huy động được Nhân dân từ các tỉnh lân cận cùng với lực lượng các tổ chức công đoàn và lực lượng Thanh niên Tiền phong có đến hàng chục vạn người đã nổi dậy khởi nghĩa. Ở một Thành phố lớn, chưa kịp nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương, nhưng cuộc khởi nghĩa đã giành được thắng lợi trọn vẹn, chỉ 5 ngày sau cuộc khởi nghĩa ở Thủ đô Hà Nội, vào lúc quân của đế quốc Anh nhân danh quân đồng minh chưa kịp đổ bộ vào miền Nam nước ta. Đảng bộ đã nắm chắc thời cơ, tổ chức được lực lượng, khôn khéo về mưu lược, tiến hành khởi nghĩa thành công.

Trải qua 86 năm bị thực dân Pháp, phát - xít Nhật và vua quan phong kiến tay sai thống trị, Nhân dân Thành phố đã sáu lần võ trang nổi dậy nhưng đều bị thất bại. Đến thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định mới rửa được nỗi nhục mất nước.

          Thứ hai làĐảng bộ đã lãnh đạo tiến công địch liên tục về nhiều mặt trong thế ở đầu sóng ngọn gió, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống giặc Pháp tái chiếm Việt Nam.

          Tái xâm lược Việt Nam cuối tháng 9 năm 1945, giặc Pháp cũng định đánh chiếm Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định để đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ, đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ để đánh chiếm cả nước ta. Vị thế của Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định là vị thế ở đầu sóng ngọn gió và lần này đã gặp phải sóng rất to, gió rất lớn. Liền ngay sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhân dân Thành phố đã phải đương đầu với một liên minh phản động quốc tế: Quân của đế quốc Anh dưới danh nghĩa quân đồng minh; quân của phát - xít Nhật đã đầu hàng nhưng còn nguyên đội ngũ và được đế quốc Anh sử dụng để chống lại cách mạng Việt Nam, cộng với số quân Pháp bị Nhật bắt làm tù binh đã được thả ra khỏi các trại giam cùng với quân Pháp từ chính quốc mới đến.

          Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, mang quân phục của quân đội Anh, giặc Pháp đã đánh chiếm trụ sở Ủy ban Hành chánh Nam Bộ. Tính rằng chính quyền cách mạng còn trong trứng nước, chúng có thể đánh chiếm Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và mở rộng ra các tỉnh ở Nam Bộ chỉ trong vài ngày. Nhưng, một cuộc phản kích rất quyết liệt của quân và dân Thành phố nổ ra, đã cầm chân giặc một tháng trong Thành phố với Kế hoạch “trong đánh ngoài vây” đã làm thất bại Kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của giặc Pháp. Các tỉnh ở Nam Bộ đã có một tháng trời chuẩn bị kháng chiến. Các xã ở ngoại thành đã tranh thủ được thời gian để xây dựng lực lượng và hình thành những căn cứ kháng chiến ở An Phú Đông, Láng Le - Bàu Cò, Rừng Sác, Bình Mỹ, Khu 5 Hóc Môn, Hố Bần, Phú Thọ Hoà, Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An…

          Suốt 9 năm kháng chiến, không chỉ ở vành đai đỏ ngoại thành, mà ngay ở nội thành giặc Pháp luôn phải sống như trên đống lửa. Chúng luôn phải đương đầu với các hoạt động đột kích trừ gian, những trận đánh đặc công đốt phá các kho xăng dầu, súng đạn; tấn công vào những điểm có đông sĩ quan Pháp…

          Phong trào đấu tranh chính trị của các giới đồng bào ở Thành phố ngày càng mạnh. Pháp hoàn toàn bị thất bại khi nặn ra “Đảng Nam Kỳ tự trị” và lập ra chính phủ “Nam Kỳ quốc” do Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng. Bằng mọi cách, địch cố ngăn chặn, nhưng hơn 40 ngàn cử tri Thành phố vẫn tham gia bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, làm cho Quốc hội đầu tiên của nước ta thực sự mang tính toàn quốc. Hàng chục ngàn công nhân lao động đã tham gia các cuộc bãi công. Ngày 11 tháng 5 năm 1949, 800 trí thức đã ra Bản Tuyên ngôn phản đối Pháp đưa Bảo Đại lên cầm quyền. Ngày 09 tháng 01 năm 1950, trong cuộc đấu tranh chống nền giáo dục vong bản, thực dân Pháp đã đàn áp, bắn chết học sinh Trần Văn Ơn và làm bị thương hàng chục học sinh khác; hơn nửa triệu người đã xuống đường đưa tang trò Ơn. Ngày 09 tháng 01 năm 1950 - ngày trò Ơn hy sinh, đã trở thành Ngày truyền thống học sinh, sinh viên toàn quốc. Hơn một ngàn nhà giáo và văn nghệ sĩ gửi kiến nghị và xuống đường biểu tình đòi hòa bình, rồi chuyển thành cuộc tuần hành khổng lồ trên đường phố vào ngày 19 tháng 3 năm 1950, phản đối Mỹ viện trợ cho Pháp kéo dài cuộc chiến tranh ở Đông Dương và đòi hai chiến hạm Mỹ (Anderson và Sticken) phải rút khỏi bến cảng Sài Gòn. Hai chiến hạm Mỹ có chở theo máy bay đã phải rời Cảng Sài Gòn, rút chạy ra Biển Đông. Ngày 19 tháng 3 năm 1950 đã trở thành Ngày toàn quốc chống Mỹ. Lễ truy điệu Trần Bội Cơ - một nữ sinh người Hoa đã tham gia phong trào chống Mỹ, bị địch bắt và tra tấn cho đến chết trong nhà tù ngày 12 tháng 5 năm 1950, đã có hàng vạn người Hoa và người Việt tham dự.

          Một mặt trận “Báo chí thống nhất” phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, đòi thả tù chính trị, đòi thương thuyết với Chính phủ Hồ Chí Minh, đã được dư luận xã hội đồng tình. Tập san “Việt Nam giáo khoa” của “Hội chống sản phẩm đầu độc tinh thần dân tộc” ra đời ngày 13 tháng 5 năm 1953 do Ban Mặt trận trí vận của ta chủ trương đã được đông đảo các nhà giáo, trong đó có những nhà giáo nổi tiếng, tham gia viết bài và cổ động cho báo.

          Để chào mừng chiến thắng Điện Biên Phủ và tăng thế mạnh của ta trong lúc Hội nghị quốc tế đang diễn ra tại Genève (Thụy Sĩ), đêm 31 tháng 5 rạng ngày 01 tháng 6 năm 1954, đội biệt động đã đánh vào kho dự trữ chiến lược của địch ở Phú Thọ Hòa, phá hủy 9.000 tấn bom đạn và đốt cháy 10 triệu lít xăng dầu…

          Giặc Pháp bị hoàn toàn thất bại trong cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai, có sự đóng góp quan trọng của quân, dân Thành phố.

Thứ ba làhơn 20 năm xông pha trong bão táp của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở trung tâm sào huyệt của địch, Đảng bộ Thành phố tiếp tục mở rộng và nâng cao thế trận lòng dân, xây dựng vành đai căn cứ cách mạng ở ngoại thành, thực hiện sự phối hợp chặt chẽ phong trào đấu tranh của công nhân và các tầng lớp Nhân dân ở đô thị với phong trào đấu tranh của nông dân ở vành đai và các tỉnh miền Nam, phối hợp giữa quân, dân Thành phố với quân chủ lực, tiến công địch liên tục về chính trị, võ trang và binh vận, đã góp phần rất quan trọng vào công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam, giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định với cơ sở vật chất còn nguyên vẹn.

Nổi lên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, có các sự kiện tiêu biểu sau đây:

- Cao trào đấu tranh chính trị đòi quyền lợi về dân sinh, dân chủ; chống “tố cộng”, “diệt cộng” của Mỹ - Diệm và bảo tồn lực lượng cách mạng, phát triển các hình thức đấu tranh võ trang tuyên truyền, bán võ trang, võ trang và binh vận, cùng với phong trào đồng khởi ở nông thôn ngoại thành của Thành phố đã góp phần tạo nên bước ngoặt mới cho cách mạng miền Nam từ thế bị động, chuyển sang giành chủ động tiến công.

          - Phong trào đấu tranh của đồng bào ở ngoại thành, phong trào phá kế hoạch gom dân lập khu trù mật, ấp chiến lược; xây dựng xã chiến đấu của nông dân ngoại thành, phong trào đấu tranh của Nhân dân nội thành, trong đó có phong trào của giới Phật giáo từ đầu tháng 5 tới cuối tháng 10 năm 1963, mở đầu từ Thừa Thiên - Huế, phát triển thành cao trào ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã góp phần đáng kể vào việc Diệm - Nhu bị lật đổ, Mỹ phải thay ngựa giữa dòng; và đến năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã bị phá sản.

          - Khi Mỹ chuyển qua thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, ở nội thành cũng như ở ngoại thành, quân và dân Thành phố đã phát huy khí thế tiến công mới. Phong trào thi đua giành danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” không chỉ trong lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương mà cả trong dân quân, trong nữ dân quân. Nhân dân các xã căn cứ ngoại thành, trong đó có căn cứ Rừng Sác với lực lượng đặc công thủy đã đánh chìm rất nhiều tàu chiến địch đi lại trên sông Lòng Tàu. Đặc biệt có vùng căn cứ Củ Chi, với hàng trăm cây số địa đạo, với vũ khí tự tạo đã chống lại nhiều trận càn của địch, tiêu diệt nhiều sinh lực địch; Củ Chi được tôn vinh là “Đất thép thành đồng”. Từ phong trào chống giặc ở đây, đã đưa đến 10 kết luận về khả năng đánh Mỹ được phổ biến rộng khắp miền Nam. Lực lượng đặc công, biệt động Thành phố đã có những trận đánh như trời giáng vào những nơi có nhiều sĩ quan Mỹ thường lui tới, nơi trú ngụ của Bộ Tư lệnh Quân sự Mỹ (MACV), Đại sứ quán Mỹ, đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, trong đó có nhiều sĩ quan, cả những sĩ quan cao cấp. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, đông đảo đồng bào các giới ở nội thành đã tiếp sức với bộ đội trước, trong và sau đợt tấn công. Các đội biệt động của Thành phố đã anh dũng tấn công vào Đài Phát thanh, Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn... Nếu như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 được đánh giá là đã tạo ra bước ngoặt quyết định làm thất bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, thì quân, dân Thành phố đã có sự đóng góp có ý nghĩa quyết định của bước ngoặt quyết định đó.

          - Trên cơ sở đẩy mạnh đấu tranh chính trị, củng cố lực lượng, phát triển hoạt động võ trang và binh vận để đón thời cơ chiến lược; Đảng bộ và Nhân dân Thành phố đã tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần làm cho Chiến dịch thắng lợi hoàn toàn. Ngày 14 tháng 02 năm 1974, Mặt trận nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris do Luật sư Trần Ngọc Liễng làm Chủ tịch được thành lập ở Sài Gòn cùng với sự ra đời của 30 tổ chức quần chúng các giới trong đó có tổ chức của bà con người Hoa. Các tổ chức đó đã phát động phong trào đấu tranh của các tầng lớp Nhân dân Thành phố: Phong trào công nhân đòi giải quyết đời sống; phong trào của giới nhà báo mang bị gậy đi ăn mày, phản đối chính quyền Sài Gòn ra lệnh đóng cửa các tòa báo; phong trào chống tham nhũng; phong trào cứu đói; phong trào của học sinh, sinh viên đốt xe Mỹ... Các phong trào đó đều có nội dung chống lại chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ và đòi Thiệu phải từ chức. Lực lượng đặc công của Thành phố đã tấn công kho bom ở thành Tuy Hạ (phá trên 100.000 tấn bom đạn); tấn công kho xăng Nhà Bè (đốt cháy 140 triệu lít xăng dầu). Trong năm 1974, đã có 17 vạn binh lính trong quân đội Sài Gòn đào, rã ngũ, trong đó có công rất lớn của công tác binh vận. Phối hợp với 5 cánh quân chủ lực đánh vào Thành phố, các đơn vị võ trang của ta đã chiếm giữ các cây cầu, chốt chặn sông Lòng Tàu, nã pháo vào sân bay Tân Sơn Nhất trong ngày 29 tháng 4 năm 1975, làm cho máy bay địch không cất cánh được. Lực lượng Nhân dân ở nội thành đã nổi dậy tước vũ khí bọn phòng vệ dân sự, trấn áp bọn ác ôn, kêu gọi cảnh sát và binh sĩ quân đội Sài Gòn nộp súng đầu hàng, làm tan rã chính quyền địch ở cơ sở. Cơ sở cách mạng ở nội thành đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ các cơ sở kinh tế, nhà máy, xí nghiệp, cơ sở văn hóa, giáo dục, y tế quan trọng, không cho địch phá hoại.

          Trước khí thế tấn công như vũ bão của quân giải phóng và phong trào nổi dậy của quần chúng, sau khi Trần Văn Hương từ chức Tổng thống, ông Dương Văn Minh nhận làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa vào đêm 28 tháng 4 năm 1975; đến 9 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Dương Văn Minh đã tuyên bố trên Đài Phát thanh Sài Gòn, chờ bàn giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời trong vòng trật tự. 11 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân giải phóng chiếm Dinh Độc Lập, ông Minh được đưa đến Đài Phát thanh Sài Gòn kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta chống đế quốc Mỹ xâm lược hơn 20 năm đã toàn thắng, trong sự nghiệp chung đó có sự đóng góp to lớn của Đảng bộ và quân, dân Thành phố. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng với cơ sở vật chất của Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định còn giữ được hầu như nguyên vẹn.

          Giành được những thắng lợi to lớn nêu trên, trong phong trào chính trị, võ trang và binh vận ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã xuất hiện nhiều hình thức đấu tranh rất độc đáo:

          Về đấu tranh chính trị:

          - Công nhân lao động dùng hình thức bầu cử, ủng hộ Sổ Lao động tranh cử để đưa Nguyễn Văn Tạo là đảng viên cộng sản vào Hội đồng Thành phố (1933). Lúc địch đánh chiếm Thành phố, đã có cả nghìn công nhân bí mật vận chuyển máy móc, thiết bị ra chiến khu xây dựng công binh xưởng. Công nhân có nhiều hình thức bãi công làm cho địch rất ngán sợ. Gần ngày giải phóng Thành phố, công nhân đã chiếm xưởng, giữ xưởng còn nguyên vẹn để giao cho chính quyền cách mạng.

          - Nông dân có nhiều hình thức đồng loạt đánh trống, đánh chiêng, gõ thùng thiếc… gây náo động, uy hiếp tinh thần địch, chiếm nhà việc (trụ sở của xã), bao vây huyện đường. Trong đấu tranh chống địch cưỡng ép dồn dân lập khu trù mật, ấp chiến lược… đã kết hợp hình thức công khai với bất hợp pháp. Trong chống địch càn quét vùng ngoại thành, có hình thức “tản cư ngược”, tức là dân chạy vào nội thành kêu cứu.

Rất nhiều cuộc đấu tranh khi bị địch đàn áp thì lập tức chuyển thành những cuộc xuống đường với hàng vạn người tuần hành thị uy phản đối.

Nhân sĩ, trí thức có nhiều hình thức ra tuyên ngôn với nhiều người ký tên, đăng lên báo, phát truyền đơn, bất hợp tác, bỏ việc ra chiến khu. Các nhà báo đã góp phần tích cực trong việc hướng dẫn dư luận có lợi cho cách mạng. Lúc báo chí bị địch cấm đoán đã ra tuyên bố “thọ nạn” và xuống đường mang bị đi ăn mày.

Học sinh, sinh viên có hình thức “đêm không ngủ”, “tôi hát cho đồng bào tôi nghe”, lật xe Mỹ trên đường phố, đấu tranh uy hiếp địch buộc phải hủy bỏ “Hiến chương Vũng Tàu” do Mỹ đạo diễn.Phụ nữ có nhiều hình thức đấu tranh để bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của nữ giới. Các giới hoạt động khoa học, văn học, nghệ thuật đấu tranh bảo vệ văn hóa dân tộc, chống nền giáo dục vong bản, đòi tự quản ở các trường đại học… Các đồng chí bị địch bắt bị tù đã nêu cao khí tiết của người cách mạng với nhiều hình thức: bước hiên ngang lên máy chém, hô khẩu hiệu giữa pháp trường, tuyệt thực, mổ bụng tự sát chứ không cúi đầu quỳ gối… với bao tấm gương trung liệt.Trong phong trào đấu tranh của Phật giáo, có hình thức cầu nguyện, cầu siêu, tuyệt thực, các nhà sư biểu tình ngồi. Nổi bật là tấm gương tự thiêu sáng ngời chính nghĩa của Hoà thượng Thích Quảng Đức và những tấm gương khác như Đại đức Thích Quảng Hương, Đại đức Thích Thiện Mỹ, Cô giáo trẻ Nhất Chi Mai… Hình thức tự thiêu đã lan qua Mỹ trong phong trào nhân dân Mỹ chống Chính phủ Mỹ gây chiến ở Việt Nam, trong đó có Norman Morrison là người tiêu biểu.

Về đấu tranh võ trang:

Hình thành và phát triển lực lượng vũ trang tại chỗ ở cả nông thôn và thành thị với những đội quân du kích, đặc công, biệt động Thành; các tổ chức Thành Đoàn, Hoa vận, Tuyên huấn, Công đoàn… là những tổ chức chính trị nhưng đều có lực lượng võ trang đánh địch ở nội thành. Đấu tranh võ trang đã lập nhiều chiến công vang dội, liên tục tiến công địch ngay ở giữa sào huyệt kẻ thù; mở rộng, bảo vệ căn cứ, cơ sở cách mạng, phối hợp hiệu quả trong các cuộc tiến công lớn của ta trên mặt trận quân sự. Thành phố tự hào là nơi đã làm cho nhiều quân Mỹ thương vong, trong đó có nhiều sĩ quan, cả những sĩ quan cao cấp.

Về binh vận:

Đã xây dựng được lực lượng trong hàng ngũ địch, đã cài người của ta vào không quân địch, dùng máy bay ném bom xuống Dinh Độc Lập; đã có cán bộ tình báo chiến lược của ta tác động làm cho Tổng thống Dương Văn Minh có hành động thức thời trong giờ phút lịch sử.

Thắng lợi giành được với những kỳ tích nêu trên do nhiều nguyên nhân như: Có Đảng do Bác Hồ kính yêu sáng lập và rèn luyện, vị lãnh tụ có uy tín lớn đối với cả dân tộc, bè bạn trên thế giới; Đảng có đường lối, chủ trương đúng về đối nội, đối ngoại; có thắng lợi chung của cả nước trong giành chính quyền và giữ chính quyền; có chỗ dựa miền Bắc và sự phối hợp giúp đỡ tận tình của các tỉnh miền Nam… Nhưng nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu là do sự lãnh đạo của Đảng  đã phát huy được sức dân, đã xây dựng, mở rộng và nâng cao thế trận lòng dân.

Hơn 45 năm xây dựng và thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, nổi lên có bảy bài học lớn sau đây:

Một là, để xây dựng Đảng bộ Thành phố vững mạnh, ngay từ lúc mới thành lập đã chú trọng làm cho Đảng gắn chặt với giai cấp công nhân, đã thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên kiên định lập trường giai cấp công nhân, thông cảm sâu sắc với nỗi khổ của con người, coi cách mạng là sự nghiệp của Nhân dân, gắn lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc, tập trung thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc.

Hai làđã thường xuyên giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, chú trọng xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Đảng bộ Thành phố được thành lập từ những đảng viên của ba tổ chức cộng sản nhập lại, thành phần xuất thân khác nhau, lại thường được bổ sung từ rất nhiều nguồn, nhưng Đảng bộ Thành phố vẫn luôn giữ được sự đoàn kết nhất trí. Trong xây dựng Đảng, luôn chú trọng xây dựng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phù hợp với nhiệm vụ công tác ở vùng đô thị bị địch tạm chiếm.

Để thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, cán bộ, đảng viên của Đảng bộ đã biết lắng nghe ý kiến Nhân dân, rút kinh nghiệm thực tiễn để vận dụng sáng tạo thích hợp với tình hình cụ thể. Trường hợp chủ trương của trên chưa phù hợp, thì không để phạm sai lầm mà biết tìm cách hạn chế tổn thất, biết căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương, đề ra chủ trương làm thử để rút kinh nghiệm rồi báo cáo lên trên, góp phần giúp Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo sát hợp.

Theo dõi, kịp thời uốn nắn những tư tưởng lệch lạc trong cán bộ, đảng viên là việc làm thường xuyên. Ngoài việc khuyến khích tự học, phổ biến kỹ những bài học nằm lòng như “đường lối chủ trương cách mạng”, “năm bước công tác dân vận”, “kinh nghiệm phát triển đảng viên và xây dựng chi bộ Đảng”, “các nguyên tắc về giữ gìn bí mật và vấn đề tu dưỡng đạo đức, khí tiết của người cộng sản”… còn thực hiện việc tự phê bình và phê bình nghiêm túc sau mỗi đợt công tác. Gặp trường hợp đồng chí lãnh đạo chủ chốt có quan điểm sai, cũng phê phán rất thẳng thắn, có kết luận rõ ràng. Trong hoàn cảnh Đảng hoạt động bí mật, việc phát triển đảng viên mới, xây dựng Chi bộ Đảng được quy định chặt chẽ. Cán bộ lãnh đạo các cấp ở Thành phố đều do chỉ định không thông qua bầu cử nhưng có theo dõi sát và có cân nhắc kỹ lưỡng trong tập thể nên các quyết định về nhân sự rất ít phạm sai lầm.

Ba làđã không ngừng nâng cao chất lượng đảng viên và chất lượng sinh hoạt chi bộ, giữ gìn kỷ luật nghiêm minh của Đảng, thực hiện lãnh đạo theo đường lối Nhân dân.

Đảng viên của Đảng bộ được chọn lọc kỹ trong những người ưu tú xuất thân từ công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, học sinh sinh viên, trí thức yêu nước đã qua thử thách trong các cuộc đấu tranh cách mạng. Việc phát triển Đảng trong công nhân, xây dựng chi bộ Đảng trong các xí nghiệp công nghiệp được chú trọng. Đảng viên có ý thức gắn bó với công nhân, gắn bó với quần chúng lao động, có ý thức kết hợp chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế.

Các cuộc họp định kỳ của chi bộ được tổ chức chu đáo, đảm bảo cho các đảng viên đều tham gia thảo luận, phân tích tình hình trong nước, tình hình Nhân dân, hoạt động của địch, tình hình thế giới… kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, đề ra công việc làm và cách làm. Qua sinh hoạt chi bộ, trình độ phân tích, suy luận về chính trị và trình độ lãnh đạo của đảng viên được nâng cao một cách thiết thực.

Việc kiểm tra hoạt động của đảng viên và giữ gìn kỷ luật của Đảng được thực hiện đồng thời với việc xây dựng tình cảm đồng chí trong Đảng, làm cho đảng viên thấy rõ Đảng vừa có kỷ cương chặt chẽ nghiêm minh vừa thật sự là đại gia đình cách mạng, cùng chung lý tưởng, ấm áp nghĩa tình.

Số đảng viên bám trụ trong dân, sống chan hòa với dân, kết hợp hài hòa với số cán bộ thoát ly hoạt động cách mạng. Những đảng viên bám trụ trong dân có trách nhiệm tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng Nhân dân trong từng giới, từng lúc, từng nơi và kịp thời báo cáo cho Đảng. Cán bộ thoát ly tiếp xúc với đảng viên bám trụ, lắng nghe phản ánh ý kiến của Nhân dân để phân tích, phát hiện vấn đề, góp phần đề ra chủ trương, giải pháp rồi vận động quần chúng làm. Làm như vậy là thực hiện được nguyên tắc lãnh đạo của Đảng: Từ Nhân dân mà ra rồi trở về với Nhân dân.

Bốn làviệc phát triển Đảng phải tính đến khả năng bảo vệ Đảng, luôn có ý thức cảnh giác chống lại sự đánh phá của địch, biết thu mình lại đúng lúc nhưng lại phải biết tăng nhanh thực lực khi có thời cơ.

Hoạt động ở trung tâm sào huyệt của địch nên việc giữ gìn bí mật luôn được coi trọng. Thành phố có các vùng khác nhau. Nơi dễ bị địch đánh phá, yêu cầu phát triển đảng viên phải có chất lượng rất cao và không  thành lập chi bộ mà giữ mối quan hệ với Đảng theo đơn tuyến. Vùng nội thành, chi bộ thường chỉ có 3 đảng viên và phải biết khéo che chắn. Nếu có đảng viên yêu cầu giữ quan hệ đơn tuyến với Đảng thì cần phải đáp ứng, không nên ép phải tham gia chi bộ. Vùng ven đô, các chi bộ được thành lập có số lượng từ 5 đến 7 đảng viên, mỗi đảng viên phải có kế hoạch bám chắc vào Nhân dân. Vùng căn cứ ngoại thành, có thể tổ chức chi bộ đông đảng viên hơn, nhưng phải có kế hoạch tự bảo vệ, để khi bị địch càn quét lấn chiếm thì đảng viên không bị “trốc” hết ra ngoài.

Gặp lúc thoái trào, Đảng bộ phải biết nhanh chóng thu gọn mình lại và có kế hoạch cụ thể cho từng cán bộ, đảng viên biết tự bảo vệ để tránh tổn thất khi bị địch đánh phá. Khi có thời cơ, phải tập trung phát triển  nhanh thực lực của Đảng để đáp ứng yêu cầu lúc cao trào. Thực hiện tốt việc này phải có chuẩn bị nguồn quần chúng ưu tú cho việc phát triển đảng viên cũng như phải nắm sát tình hình đảng viên và cán bộ cơ sở để khi cần thì đề bạt từ dưới lên.

Đối với lực lượng cán bộ do cấp trên điều động từ các nơi khác về chi viện cho Thành phố và cán bộ từ các nhà tù của địch trở về, phải được kịp thời phân công, bố trí theo yêu cầu công việc, theo tiêu chuẩn đức tài và được chăm sóc chu đáo để giữ đoàn kết nội bộ, người người phấn khởi làm nhiệm vụ. Khi có thời cơ đặc biệt, mở chiến dịch lớn như chiến dịch  Xuân Mậu Thân năm 1968 hay chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, thì việc phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng tại chỗ với lực lượng từ ngoài tấn công vào được tổ chức tốt có ý nghĩa rất lớn để đánh thắng địch.

Năm làphải coi trọng tổ chức hệ thống thông tin liên lạc thông suốt.

Thông tin liên lạc giữ vị trí rất quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ở đô thị. Trong hệ thống thông tin liên lạc có hệ thống điện đài, cơ yếu mật mã, hệ thống hộp thơ mật, hệ thống đường dây hợp pháp, dựa vào những gia đình cơ sở để tổ chức những bàn đạp từ đó dẫn dắt cán bộ, đưa tài liệu mật, vũ khí khí tài vào ra giữa căn cứ và nội thành và giữa các đầu mối trong nội thành. Khi cần, còn phải có cả đường dây liên lạc mật đặc biệt như đường dây để chuyển kịp thời báo chí ở Sài Gòn qua Pháp cho Phái đoàn ta ở Hội nghị Paris. Đảm bảo thông tin liên lạc thường xuyên, kịp thời giữa căn cứ và nội thành là yêu cầu nhất thiết của sự lãnh đạo, chỉ đạo; do vậy, việc chọn địa điểm xây dựng căn cứ phải đảm bảo yêu cầu thông tin liên lạc được với nội thành và luôn có căn cứ dự phòng khi bị địch đánh phá.

Sáu là, phải không ngừng nâng cao bản lĩnh lãnh đạo.

Bản lĩnh lãnh đạo của Đảng bộ thể hiện ở việc nắm chắc tình hình, phân tích phát hiện đúng vấn đề, đề ra chủ trương đúng và khéo tổ chức thực hiện.

Cấp ủy Đảng thường phải nắm vững 4 mặt của tình hình:

- Tình hình chủ trương cấp trên;

- Tình hình và âm mưu, ý đồ của địch;

- Tình hình Nhân dân;

- Tình hình thực lực của Đảng.

Trên cơ sở đó, trong từng lúc, ở từng nơi phải xác định đúng trọng tâm công tác, trọng điểm chỉ đạo và khâu đột phá mở đầu.

Lãnh đạo ở một Thành phố lớn, ở trung tâm sào huyệt của địch, nên có thắng, có bại là lẽ thường. Vấn đề là biết kịp thời rút kinh nghiệm thành công, thất bại, tìm ra nguyên nhân và phổ biến những bài học kinh nghiệm đến từng đảng viên để càng chiến đấu càng trưởng thành.

Khéo tổ chức thực hiện là nghệ thuật trong lãnh đạo, chỉ đạo phải biết bám sát cuộc sống, lắng nghe những kinh nghiệm và ý kiến của đảng viên ở cơ sở và các tầng lớp Nhân dân, cảm thông sâu sắc với nỗi khổ của quần chúng, ngay cả đối với những gia đình có con em bị địch bắt đi lính, cũng biết coi đó là những gia đình đau khổ.

Việc thu hút Nhân dân vào các phong trào đấu tranh thường phải xuất phát từ các nhu cầu dân sinh, dân chủ dẫn đến các yêu cầu chính trị và nhằm vào mục tiêu cuối cùng là giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân. Hình thức đấu tranh phải phù hợp với trình độ, hoàn cảnh sinh sống của các tầng lớp nhân dân và thế ta, thế địch cụ thể. Phải tùy theo tình hình ta, địch mỗi lúc, tùy yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, tùy theo trình độ giác ngộ và hoàn cảnh từng người mà tập hợp vào từng loại hình tổ chức thích hợp: Tổ chức biến tướng; tổ chức công khai hợp pháp; tổ chức nửa hợp pháp; tổ chức bí mật. Tổ chức Đảng cần rất bí mật, ít mà chắc. Tổ chức quần chúng cần rất rộng, với nhiều hình thức phong phú, linh hoạt, chú trọng tạo thế hợp pháp để Nhân dân dễ tham gia.

Vấn đề tập hợp Mặt trận đoàn kết rộng rãi và biết tập trung chĩa mũi nhọn của cuộc đấu tranh vào kẻ thù nguy hiểm nhất trong từng lúc phải được coi là vấn đề chiến lược và sách lược rất quan trọng. Trong công tác Mặt trận, có hai mặt tác động lẫn nhau. Một mặt là phát động phong trào đấu tranh mạnh trong công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị rồi qua việc thông tin tuyên truyền, nhất là thông tin trên báo công khai mà tác động đến ý thức cách mạng trong giới trung lưu, thượng lưu. Mặt khác, phải coi trọng vận động giới trí thức, nhân sĩ, người có uy tín lớn trong các giới, các dân tộc, các tôn giáo, tạo thế cho họ đứng ra hiệu triệu để vận động các tầng lớp Nhân dân hưởng ứng đông đảo, tạo thành Mặt trận đoàn kết rộng rãi, vững chắc.

Vận động cách mạng trong hàng ngũ quân đội và chính quyền địch phải biết đặt ra từng mức yêu cầu với từng đối tượng một cách thích hợp, làm cho họ dễ thực hiện, hoạt động cho cách mạng mà không bị lộ. Việc xây dựng cơ sở nội tuyến lâu dài nằm trong các cơ quan đầu não của địch có ý nghĩa rất lớn.

Phải tuân thủ nguyên tắc ngăn cắt giữa tổ chức và người hoạt động bí mật với tổ chức và người hoạt động công khai. Đưa chủ trương lãnh đạo của Đảng vào quần chúng rộng rãi cần thông qua lực lượng nòng cốt để bảo tồn và tích lũy lực lượng được lâu dài. Ngoài ra, còn tùy theo yêu cầu của từng cuộc, từng đợt đấu tranh và tình hình ta, địch cụ thể trong mỗi lúc, mỗi nơi mà huy động lực lượng quần chúng vừa mức, chú ý giữ thế hợp pháp và bảo tồn lực lượng. Biết cách khéo đưa lên báo chí công khai, rồi hướng dẫn cho đông đảo Nhân dân theo báo chí để đấu tranh cũng tạo được những phong trào lớn mà địch khó đàn áp.

Về phương pháp và hình thức đấu tranh, phải biết lắng nghe ý kiến Nhân dân để có chủ trương linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tế giữa ta và địch. Khi tình hình thay đổi thì phương pháp, hình thức cũng phải thay đổi. Lúc địch thẳng tay đàn áp khủng bố thì đấu tranh chính trị phải được hỗ trợ bằng đấu tranh võ trang, cán bộ, đảng viên phải có kế hoạch tự bảo vệ.

Trong lãnh đạo đấu tranh phải biết đẩy lùi địch từng bước, làm thất bại từng chính sách của địch, giành thắng lợi từng phần, tranh thủ thời cơ tạo nên từng bước ngoặt, cùng với cuộc đấu tranh chung của cả nước mà đi đến giành thắng lợi hoàn toàn.

Bảy làĐảng bộ lãnh đạo trong thời kháng chiến phải xây dựng căn cứ cách mạng ở nông thôn ngoại thành để tạo thế dựa và chú trọng xây dựng các lực lượng võ trang.

Cần phải xây dựng vùng nông thôn ngoại thành, thành một vành đai để đánh địch khi chúng đi càn quét; để các cơ quan lãnh đạo, cơ quan chỉ huy có nơi trú đóng, hội họp. Đó cũng là nơi để tổ chức trường lớp bồi dưỡng về lý luận, chính trị cho cán bộ, đảng viên; là nơi ở cho cán bộ, đảng viên hoạt động ở nội thành khi bị lộ. Đảng bộ lãnh đạo trong thời kháng chiến không chỉ đấu tranh chính trị đơn thuần mà phải kết hợp với đấu tranh võ trang. Cần phải xây dựng lực lượng võ trang để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị bằng đột kích võ trang tuyên truyền, trừ gian, diệt ác, phát huy khí thế cách mạng. Ngoài lực lượng ba thứ quân được xây dựng ở vùng căn cứ ngoại thành, cần có lực lượng đặc công, biệt động mật, du kích mật, tự vệ mật, tạo thế tồn tại hợp pháp. Lực lượng này có khả năng đánh hiểm, đánh sâu vào trung tâm đầu não của địch, dễ làm cho địch bất ngờ. Cần có kế hoạch khéo tạo chỗ dung trú, chỗ cất dấu vũ khí ở nội thành và có lực lượng Nhân dân sẵn sàng giúp đỡ về các mặt cần thiết cho lực lượng võ trang từ bên ngoài khi đột nhập vào nội thành để tiến công địch và khi rút lui. Do xây dựng được căn cứ ngoại thành và tổ chức được các lực lượng võ trang phù hợp để tiến công địch với hiệu quả cao, đã làm cho cuộc kháng chiến ở địa bàn đô thị mang ý nghĩa chiến lược ngang với địa bàn vùng nông thôn đồng bằng và vùng căn cứ ở rừng núi.

Những bài học trên được đúc kết từ thực tiễn sinh động, phong phú, thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bản lĩnh, trí tuệ, năng động, sáng tạo của Đảng bộ và Nhân dân Thành phố trong quá trình đấu tranh cách mạng, giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, vẫn giữ nguyên giá trị, để lại ý nghĩa rất thiết thực trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển Thành phố.

Lịch sử 45 năm đấu tranh cách mạng kiên cường của Đảng bộ, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định là mạch nguồn bồi dưỡng lòng tự hào phấn khởi và tăng thêm niềm tin cho các thế hệ hôm nay và mai sau vào sức mạnh của Nhân dân, vào sự lãnh đạo của Đảng. Đó là động lực tinh thần mạnh mẽ cần tiếp tục phát huy trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển Thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu, Thành phố Hồ Chí Minh - Thành phố anh hùng.

       II. NHIỆM VỤ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TRONG GIAI ĐOẠN 2015 - 2020

          Bốn mươi năm (1975 - 2015) là một chặng đường quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Thành phố, đánh dấu sự trưởng thành và đóng góp tích cực của Thành phố trong hình thành, hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng. Vượt qua khó khăn chồng chất trong 10 năm đầu (1975 - 1985), Thành phố đã giữ vững thành quả cách mạng, ổn định chính trị, khôi phục và phát triển kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Gần 30 năm qua cùng với cả nước, Đảng bộ và Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 2015), một chặng đường hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển Thành phố.

          Tiếp tục phát huy thành quả đạt được, trong những năm tới (2015 - 2020) Thành phố thực hiện nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng với những nội dung tập trung như sau: Xây dựng Đảng bộ thành phố thật trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, chất lượng cán bộ, đảng viênTiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, tạo được sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ Thành phố, củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Xây dựng Đảng bộ vững mạnh về tư tưởng chính trị; chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, nhất là năng lực cụ thể hóa, vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị; bám sát thực tiễn, nâng cao chất lượng tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hiệu quả việc tự phê bình, phê bình, chất vấn trong các kỳ họp cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả cơ chế phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng.

Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng; nâng cao tính chiến đấu, sức thuyết phục, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Đề án “Phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng bộ và phản bác các quan điểm sai trái”; kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm theo đúng quy định của Đảng; nâng cao nhận thức, tăng “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng.

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức học tập nghị quyết, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị; thực hiện tốt chương trình nâng cao trình độ và cập nhật kịp thời kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý; chăm lo xây dựng, củng cố đội ngũ, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao phẩm chất chính trị, năng lực của giảng viên chính trị, báo cáo viên; kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động trung tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện và một số đảng ủy cấp trên cơ sở. Chỉ đạo, đầu tư biên soạn thật tốt Lịch sử thành phố và Lịch sử Đảng bộ Thành phố giai đoạn 1975 - 2015.

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý nhằm định hướng và tạo điều kiện báo chí Thành phố phát triển; tập trung đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực, nghiệp vụ giỏi; củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan báo chí, đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích. Đầu tư nghiên cứu, tăng cường các giải pháp khả thi, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nội dung, hoạt động của các trang thông tin trên mạng Internet.

Tăng cường rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong rèn luyện đạo đức, lối sống. Nâng cao hiệu quả thực hiện các chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác Hồ sát với đặc điểm địa phương, đơn vị; tăng cường giáo dục đạo đức lối sống cho thế hệ trẻ. Thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng bộ và hệ thống chính trị. Kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên. Tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên, tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, nhất là các tổ chức đảng yếu kém, tổ chức đảng trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa hiệu quả xây dựng và chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể chính trị - xã hội trong doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập.

 Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy; thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là tự phê bình và phê bình. Xây dựng đội ngũ đảng viên thực sự tiền phong, gương mẫu, gần dân, sát dân, có trách nhiệm cao trong công việc, có phẩm chất đạo đức, năng lực hoàn thành nhiệm vụ. Xây dựng quy trình, biện pháp đánh giá, thẩm định công nhận chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên đúng thực chất, khắc phục cho được tính hình thức và bệnh thành tích trong đánh giá chất lượng. Đẩy mạnh phát triển đảng viên, chú trọng kết nạp đảng từ công nhân, trí thức, thanh niên; bảo đảm chất lượng đảng viên mới. Tiếp tục mở rộng diện thực hiện và nâng cao hiệu quả mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân quận - huyện, phường - xã, thị trấn.

Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ;  xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh. Thực hiện tốt các bước tiếp theo sau quy hoạch cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, năng lực tốt, gắn bó, hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân; chú trọng và tăng hơn nữa tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, cấp ủy là nữ, cán bộ trẻ tuổi, cán bộ xuất thân từ công nhân. Nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ tuổi; cán bộ lãnh đạo, quản lý xuất thân từ công nhân; đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ; tiếp tục nghiên cứu, bổ sung chính sách thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, lực lượng trí thức trẻ tuổi có trình độ thạc sĩ trở lên; nghiên cứu, thực hiện thi tuyển một số chức danh quản lý ở cấp sở, ngành, quận, huyện và cơ quan tương đương.

Tăng cường trách nhiệm của cấp ủy, nhất là cấp ủy cơ sở trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hiện tượng cục bộ, bè phái, gây mất đoàn kết trong Đảng; tập trung nắm tình hình và giải quyết đúng đắn, hiệu quả vấn đề chính trị hiện nay, nhất là vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận, tổ chức chính trị - xã hội; kiểm tra, giám sát các ban cán sự đảng, đảng đoàn, tổ chức đảng ở các cơ quan nhà nước, cơ quan tư pháp và các lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm; các tổ chức đảng ở các tổ chức kinh tế. Chú trọng đúng mức việc kiểm tra thực hiện các kết luận kiểm tra, giám sát tại các tổ chức đảng. Tiếp tục hoàn thiện phương pháp, quy trình kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại trong Đảng; hoàn thiện quy chế và nâng cao chất lượng phối hợp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng giữa ủy ban kiểm tra với các tổ chức đảng và cơ quan liên quan. Kiện toàn ủy ban kiểm tra, tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra tương xứng, ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; tăng cường cán bộ kiểm tra các cấp đủ số lượng, đảm bảo chất lượng, am hiểu sâu nhiệm vụ chính trị hiện nay.

Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống  lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, thanh tra, giám sát, nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng; xử lý nghiêm minh trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan có chức năng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và trách nhiệm của cơ quan báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy và các cấp ủy đối với hệ thống chính trị. Xác định rõ, quy định cụ thể và kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện mối quan hệ giữa tập thể cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu, bảo đảm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, địa phương, cơ quan, đơn vị. Tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc bảo đảm khoa học, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, nói đi đôi với làm. Thực hiện hiệu quả công tác cải cách hành chính trong Đảng; ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong quản lý của các cơ quan tham mưu giúp việc Thành ủy.

Chăm lo xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Phát huy tốt hơn nữa vai trò của Đoàn trong huy động, tổ chức cho thanh niên xung kích, tình nguyện phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội; xây dựng và phát huy các điển hình thanh niên tiên tiến; xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn, hội, đội thực sự tiêu biểu; có năng lực vận động thanh niên; phát hiện, lựa chọn đoàn viên ưu tú để bồi dưỡng, tạo nguồn kết nạp đảng viên mới và đào tạo cán bộ trẻ tuổi.

 

Kỷ niệm 86 năm Ngày thành lập Đảng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vô cùng tự hào vì đất nước ta có một Đảng Cộng sản kiên cường, trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lãnh đạo Nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

Tự hào về Đảng quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Thành phố càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ Thành phố và nghị quyết đại hội đảng các cấp; quyết tâm xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình./.

BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Đăng nhập thành viên
 
 

Đăng nhập bằng OpenID Đăng nhập bằng OpenID

Thăm dò ý kiến

Đâu là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi Đoàn?

Thống kê truy cập
  •   Đang truy cập 6
  •   Máy chủ tìm kiếm 1
  •   Khách viếng thăm 5
 
  •   Hôm nay 1,785
  •   Tháng hiện tại 27,907
  •   Tổng lượt truy cập 8,503,088